Giải mã các hiện tượng dị thường - Kỳ 19 - Kỳ 20 - Kỳ 21

Kỳ 19: Bí mật của thôi miên

Thôi miên do bác sĩ Anton Mesmer người Áo phát hiện trong thế kỷ 18. Đó là “trạng thái thăng thiền giống giấc ngủ, tạo ra do những ám thị của nhà thôi miên được đối tượng chấp nhận”. Năm 1842, bác sĩ James Braid người Scotland đưa ra thuật ngữ “thôi miên”, tiếng Hy Lạp có nghĩa là giấc ngủ.

Bản chất của thôi miên

Về thực chất, thôi miên là gì? Thật lạ lùng là sau gần hai thế kỷ khảo sát, giới khoa học vẫn chưa đạt được sự nhất trí trong vấn đề căn bản đó.

Khả năng ám thị và sự tưởng tượng: Có mối quan hệ trực tiếp giữa sự tưởng tượng và khả năng bạn bị một nhà thôi miên ám thị. Vì thế có người xem thôi miên chỉ là sự đóng kịch. Hơn nữa đáp ứng đối với thôi miên phụ thuộc vào hành vi thời niên thiếu của người chịu ám thị. Nếu lúc nhỏ thường bị phát nặng, khi lớn lên nhiều khả năng bạn sẽ dễ dàng tuân theo những ám thị từ một nhà thôi miên.

Quay ngược thời gian: Thôi miên có thể giúp ta nhớ lại những sự kiện quá khứ đã bị lãng quên. Khi nhập định sâu, người thôi miên có thể làm sống lại các ký ức tuổi thơ. Chẳng hạn khi được yêu cầu quay về sinh nhật lần thứ năm, một phụ nữ kể được từng người dự tiệc và từng món quà, cũng như nội dung những giấc mơ đẹp cô nằm mơ tối hôm đó. Nhiều người đi xa hơn, khi kể chi tiết những gì cha mẹ họ đã nói khi đang mang thai họ; còn một số người kể về các tiền kiếp, thậm chí từ 35.000 năm trước! Vì thế có người quan niệm sai lầm rằng, ký ức tái hiện nhờ thôi miên chính là bằng chứng của sự luân hồi.

Thôi miên và trí nhớ: Một số cơ quan cảnh sát thường dùng thôi miên để điều tra tội phạm. Cảnh sát Mỹ từng thôi miên nhân chứng để họ nhớ lại các tình tiết bị quên trong một số vụ án. Tuy nhiên phần lớn nhà tâm lý không đồng ý như vậy. Chẳng hạn theo Martin Orne, nguyên chủ tịch Hội thôi miên quốc tế, ký ức dưới thôi miên thường không chính xác, vì nhà thôi miên dễ dàng cài các ký ức sai, còn đối tượng bị thôi miên cũng rất dễ chấp nhận chúng.

Thôi miên và chứng đau: Khá lạ là đối tượng bị thôi miên vừa thấy giảm đau vừa không, như một thí nghiệm kinh điển của nhà tâm lý Hilgard, ĐH Stanford, Mỹ, chuyên gia về thôi miên, đã chứng tỏ. Điều đó càng khẳng định, thôi miên vừa là trạng thái thăng thiền vừa là trạng thái đóng thế vai.

GS Charcot đang thôi miên một nữ bệnh nhân hysteria tại Paris, khoảng giữa thế kỷ 19

Người quan sát giấu mặt: Hilgard tin thôi miên là một trạng thái ý thức biến đổi, trong đó ý thức bị phân ly. Khi đó một phần tâm trí bạn hoạt động theo cách bị thôi miên và không cảm thấy đau nếu nhà thôi miên yêu cầu bạn như vậy. Nhưng một phần khác, là phần vẫn có thể giao tiếp với mọi người bằng động tác, thì không bị thôi miên, nên vẫn cảm nhận được cơn đau mà ý thức bạn đang cố nén đi. Hilgard gọi đó là “người quan sát giấu mặt”. Phần tâm trí này rất giống với sự phân ly nhân cách vẫn xảy ra với bệnh nhân tâm thần. Vì thế người đa nhân cách hết sức nhạy cảm và dễ dàng đáp ứng đối với thôi miên.

Lợi ích của thôi miên

Kiểm soát đau: Dưới thôi miên, bệnh nhân đau mãn tính được ám thị rằng, cơn đau giảm hay biến mất. Sự phân ly nhân cách dưới thôi miên như thế là một phương thức “đánh lạc hướng” các trung khu cảm nhận và giải đoán đau trong não, nên có tác dụng giảm đau tốt. Thôi miên rất có ích trong giảm đau khi sinh nở và khi chữa răng.

Cai nghiện thuốc lá: Dù không thành công trong nghiện rượu và ma túy, thi thoảng thôi miên giúp cai nghiện thuốc lá. Người đang dưới thôi miên được ám thị rằng, mùi vị thuốc rất khó chịu. Cách khác là người nghiện tự thôi miên để từ bỏ thèm muốn hay tự ám thị rằng họ có cách bảo vệ bản thân khỏi sự độc hại của khói thuốc.

Điều trị một số rối loạn tâm lý: Thôi miên thường dùng để tạo thư giãn, giảm lo âu hay sửa chữa các ý nghĩ tự hủy hoại ở một số rối loạn tâm thần.

Điều tra tội phạm: Thôi miên được dùng để nhớ lại các tình tiết vụ án mà nhân chứng đã quên. Tuy nhiên thông tin thu được thường chỉ có ý nghĩa tham khảo chứ không có tính pháp lý.

Cải thiện thành tích thể thao: Thỉnh thoảng giới vận động viên chuyên nghiệp dùng thôi miên để cải thiện thành tích. Chẳng hạn võ sĩ vô địch thế giới Ken Norton thường thôi miên trước lúc thượng đài, còn ngôi sao bóng rổ nhà nghề Mỹ Rod Carew dùng thôi miên để tăng sự tập trung trong thi đấu.

Kết luận

Thôi miên có thể có tiềm năng ứng dụng mạnh mẽ; tuy nhiên lợi ích thực sự phụ thuộc vào từng cá thể. Với những ai nhạy cảm và tin tưởng vào thôi miên, nó có thể mang lại nhiều lợi ích. Còn với đa số mọi người chưa từng biết đến thôi miên, dường như nó chỉ là câu chuyện lúc trà dư tửu hậu mà thôi.

Kỳ 20: Hé mở bí mật khí công

Một trong những di sản của văn hóa phương Đông là khí công đang thu hút sự quan tâm của dư luận, khi các nhà khoa học bắt đầu vén bức màn bí ẩn bao phủ lên nó đã hàng ngàn năm. Nghiên cứu tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hong Kong, Mỹ… cho thấy, nó có một phần sự thật.

Bản chất dòng khí

Quan niệm cơ bản của khí công là dòng khí trong cơ thể con người có thể được điều chỉnh nhờ các kỹ thuật khác nhau. Và khí công sư cũng có thể phát công để chữa trị cho người khác.

Vậy bản chất dòng khí đó là gì? Trong bốn tương tác vật lý chi phối cả vũ trụ (hấp dẫn, điện từ, yếu và mạnh), chỉ điện từ là có vai trò khả dĩ thích hợp. Có lẽ các nhà khoa học ĐH Vũ Hán, Trung Quốc, đã lập luận như vậy khi dùng kỹ thuật cộng hưởng từ hạt nhân NMR để nghiên cứu tác động của khí công trên hóa chất O-N-propyl-O-allylthiophosphoramide. Loại hóa chất này được chọn vì hai lý do: nó có phổ NMR được biết rõ và rất nhạy cảm với điện từ trường. Đúng như mong đợi, khi khí công sư phát công để tác động lên hóa chất đựng trong một hộp thủy tinh, phổ NMR của nó thay đổi. Tác động càng nhiều lần thì sự thay đổi càng lớn. Điều đó chứng tỏ trường điện từ đã được phát ra khi khí công sư phát công; và chính nó làm thay đổi phổ cộng hưởng từ của hóa chất.

Cường độ và tần số điện từ trường

Các nhà khoa học tại Hội Khí công Nhật Bản và Khoa Sinh lý, ĐH Showa, Tokyo, đã tiến hành xác định cường độ và tần số của điện từ trường do khí công sư tạo ra khi phát công. Trong số 37 người tình nguyện thuộc các nhóm vẫn luyện tập khí công, yoga và thiền, chỉ 3 người phát tín hiệu điện từ đủ lớn, với cường độ từ trường cỡ miliGauss, tức lớn hơn của người bình thường khoảng 1.000 lần. Tần số của các tín hiệu đó nằm trong dải cực thấp, từ 4 tới 10 Hz.

Công phu phái Khí công Lâm Sơn Động

Nghiên cứu hệ thống của Khuyết Xảo Căn (Trung Quốc) cho thấy, ngoài các tín hiệu nằm trong dải tần cực thấp như trên, khí công sư còn phát các bức xạ hồng ngoại gần (bước sóng 1.06 micromét) và hồng ngoại xa (bước sóng 9.3 micromét). Chúng được phát hiện nhờ tác dụng lên phim cảm quang có bước sóng hấp thụ chọn lọc.

Tác dụng của bức xạ hồng ngoại sinh học

Một đặc trưng của bức xạ hồng ngoại là tác dụng nhiệt. Đo đạc cho thấy, khi đắc khí, nhiệt độ bàn tay và ngón tay khí công sư tăng 4- 60C, đủ để ta cảm nhận được từ bên ngoài mà không cần dùng các kĩ thuật ghi nhiệt.

Khí công Lâm Sơn Động

Thực nghiệm tiếp theo ở nhiều nơi tại Trung Quốc cho những kết quả rất thú vị. Khí phát công mượn đường qua lưng hai nhà khí công khác, nhiệt độ bàn tay người thụ công cũng tăng 40C. Ngoài ra, các khí công sư cũng có thể phát công thành công qua các vật cản như gỗ, nhôm và chì.

Khi phát công qua tấm gỗ dày 0.5cm đặt trên lưng người thụ công, sau 20 phút, nhiệt độ bàn tay người thụ công cũng tăng 20C. Thay gỗ bằng tấm nhôm dày tương đương, tác dụng tuy giảm nhưng không hề bị triệt tiêu. Đặc biệt, khi thay gỗ hay nhôm bằng tấm chì dày 0.5cm, tác dụng tuy giảm rất nhiều nhưng vẫn không mất hẳn. Điều đó cho thấy, có thể cơ thể đã dùng một hiệu ứng vật lý đặc biệt là ngưng tụ Bose-Einstein để ghi nhận các tín hiệu điện từ đã suy giảm rất nhiều khi truyền qua vật chắn. Điều đó giúp loại bỏ các quan niệm sai lầm như “trường sinh học” có thể lan truyền không suy giảm qua khoảng cách.

“Khí công sư điện tử”

Khuyết Xảo Căn đã chế tạo thành công các thiết bị tần phổ phát tín hiệu hồng ngoại gần mô phỏng “dòng khí” của khí công sư. Khi bức chiếu cho người tình nguyện, “khí công sư điện tử” này tạo ra được những phản ứng thụ công điển hình (cảm giác nóng hay lạnh, tê, thư giãn…) như một khí công sư thực thụ!

Đặc biệt, khi bức chiếu cho người đang luyện tập khí công, thiết bị tạo cảm giác khí và cải thiện sự đắc khí rõ rệt. Nó cũng có tác dụng tốt trên nhiều nhóm bệnh vẫn đáp ứng với khí công trị liệu. Với giá bán khá rẻ, chỉ hơn một triệu đồng Việt Nam, thiết bị tần phổ đã có mặt tại nước ta từ 10 năm trước.

Khi phát minh ra khí công, do hiểu biết còn hạn chế, nên người xưa xem dòng khí là một loại tương tác hay năng lượng bí ẩn. Nghiên cứu tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Trung Quốc, cho thấy đó có thể chỉ là các biểu hiện đặc biệt của tương tác điện từ, loại tương tác chi phối sự sống. Và như vậy, bức màn bí ẩn bao phủ môn khí công đã hàng ngàn năm đang dần dần được hé mở.

Kỳ 21: Bí mật của xuất hồn – thoát xác

Xuất hồn hay thoát xác là hiện tượng khá phổ biến trong hầu hết các nền văn hóa. Người ta tin rằng, khi đó “hồn” bay khỏi “xác”, bồng bềnh giữa không trung, quan sát thể xác và thế giới xung quanh. Nhiều người xem đó là bằng chứng của “linh hồn” và “thế giới tâm linh”.

Theo nữ tâm lý gia Susan Blackmore, người đã nghiên cứu hiện tượng này hơn 40 năm, xuất hồn là “kinh nghiệm mà dường như một người cảm nhận được thế giới từ một vị trí ngoài cơ thể vật chất”. Còn theo Irwin, đó là kinh nghiệm mà “trung tâm ý thức dường như chia tách với cơ thể”. Các nhà tâm lý cho rằng, xuất hồn không phải là hiện tượng “tâm linh”, mà là một trạng thái ý thức biến đổi. Nó có thể liên quan với psi (đã giải thích trong các kỳ trước), nhưng không phải là psi.

Bằng chứng thống kê

Theo Blackmore, khoảng 15-20% dân chúng thi thoảng xuất hồn. Đa phần chỉ một vài lần trong đời, nhưng một số xuất hồn khá thường xuyên, còn một số ít thì luyện tập đến mức xuất hồn lúc nào cũng được!

Xuất hồn thường xảy ra lúc nghỉ ngơi, trước khi ngủ hay đang thiền. Đặc trưng chung của trạng thái là thư giãn, giảm hay mất cảm giác bản thể và kích thích cảm giác. Nó xảy ra trong thời gian ngắn, thường bắt đầu với cảm giác đi vào đường hầm tối đen với ánh sáng rực rỡ phía cuối, giống trạng thái cận kề cái chết. Có người thấy “hồn” xuất rồi lại nhập vào xác.

Hành trình của linh hồn trong sự tưởng tượng của các họa sĩ

Xuất hồn độc lập với tuổi, giới tính, học vấn hay tôn giáo, mà phụ thuộc chủ yếu vào khả năng bị thôi miên và sự nhập vai. Vì thế giới nghệ sĩ dễ xuất hồn. Nhiều kỹ thuật có thể tạo xuất hồn, phần lớn xem thư giãn và tưởng tượng là yếu tố cơ bản. Thôi miên là kỹ thuật được ưa thích. Một số thuốc hướng thần cũng gây xuất hồn, như thuốc gây ảo giác, thuốc mê… nên có người thấy xuất hồn khi được phẫu thuật.

Để lý giải xuất hồn, hiện có ba giả thuyết chính: một cái gì đó (“hồn”) rời khỏi xác, ảo giác kết hợp với ngoại cảm và các lý thuyết tâm lý.

Thoát xác

Đa số người xuất hồn thấy thoát xác, dẫn tới giả định về sự tồn tại của “linh hồn”, độc lập với thể xác và có thể tồn tại sau cái chết của thể xác. Đây là một quan điểm sai lầm vì chia tách con người thành thể xác và linh hồn và xem chúng khác nhau. Vậy chúng tương tác với nhau như thế nào? Khi chết hồn bay đi đâu? Ở người chết đi sống lại, hồn thoát rồi nhập xác ra sao? Đó là những câu hỏi chưa bao giờ được trả lời.

Ảo giác và ngoại cảm

Tyrrell là người đầu tiên giả định xuất hồn là những ảo giác mang thông tin thu được nhờ ngoại cảm. Nói cách khác, do đọc ý nghĩ từ xa trong lúc ảo giác mà người xuất hồn cảm thấy hồn như bay lên quan sát các sự kiện, thậm chí từ xa. Điểm yếu của lý thuyết là giả định về ngoại cảm, vì bản thân ngoại cảm cũng là chủ đề chưa được làm rõ. Không thể giải thích một hiện tượng chưa biết bằng một hiện tượng chưa biết khác!

Các lý thuyết tâm lý

Nhóm lý thuyết này quan tâm tới các yếu tố nội tại của xuất hồn như ảo giác, ước vọng, các quá trình tâm lý và sự tưởng tượng. Chúng không loại trừ nhưng cũng không lưu tâm đặc biệt tới ngoại cảm.

Ảo giác là lý thuyết đầu tiên, sau đó là các lý thuyết phân tâm học. Từ những năm 1970, các lý thuyết chính thống hơn được phát triển. Palmer xem xuất hồn là sự giảm hay mất cảm giác bản thể. Irin hay Blackmore nhấn mạnh sự thay đổi tri giác, nhất là sự cách ly cảm giác (thí nghiệm tại ĐH McGill, Canada, 1951, cho thấy, khi bị cách ly cảm giác, người tình nguyện thấy “hồn” bay lơ lửng giữa khoảng không để quan sát xác). Trên thực tế, khi xuất hồn, các hình ảnh bản thể và thế giới bị phá vỡ nên tâm trí phải tái cấu trúc một hiện thực ảo để thay thế, trên cơ sở ký ức và tưởng tượng cá nhân, nên người xuất hồn như “thấy” bản thân từ bên ngoài cơ thể.

Khả năng dị thường khi xuất hồn

Các thành viên Hội nghiên cứu tâm linh Mỹ tổ chức một số thí nghiệm có kiểm soát để kiểm tra khả năng ngoại cảm khi xuất hồn. Chẳng hạn năm 1971, Osis nghiên cứu một đối tượng là Swann bằng cách đặt đồ vật trên giá cao 3m và yêu cầu Swann gửi “hồn” lên để đọc. Osis tuyên bố kết quả khả quan, nhưng nghiên cứu tiếp theo không lặp lại được kết quả.


Hiện tượng xuất hồn cũng là dấu hiệu đặc trưng của kinh nghiệm cận kề cái chết. Nhiều bệnh nhân được cứu sống hay tỉnh lại sau phẫu thuật tuyên bố họ cảm nhận được các biến cố xung quanh “thể xác đang chết” của họ, một tuyên bố không được thực tế khẳng định. Cho đến nay nhiều người vẫn xem xuất hồn là bằng chứng của linh hồn bất tử. Tuy nhiên thành tựu mới trong các khoa học tâm trí không ủng hộ quan điểm này. Thực tế xuất hồn chỉ là những ảo giác xuất hiện khi hệ cảm giác bản thể của cơ thể bị rối loạn.